Canh thụt – món ngon của người Mnông, Đắc Lắc

Nhắc đến văn hoá ẩm thực của đồng bào dân tộc Mnông, người ta thường nghĩ ngay đến những món ăn quen thuộc như: Cơm lam, thịt gà nướng, thịt hun khói, đọt mây… nhưng có một món ăn còn ít người biết tới, đó là canh thụt.

Chuẩn bị nguyên liệu để nấu canh thụt

Theo nhiều già làng kể lại, món ăn này có từ rất xa xưa. Khi lên rẫy, bà con có thói quen dùng bữa trưa ngay tại rẫy để tranh thủ thời gian lao động, nên tìm cách cho gạo và thức ăn vào ống tre để nấu, vừa thuận tiện lại vừa thơm ngon.

Ngày nay, mỗi khi mùa lễ hội đến hay vào dịp đón khách quý, những thiếu nữ Mnông phải lên rừng trước một ngày tìm nguyên liệu để làm canh thụt. Bây giờ ở nhiều nơi, người dân đã bán những nguyên liệu này. Ít nhất, có 10 loại nguyên liệu như: da bò khô, lá nhíp, cà đắng, đọt mây, ớt xanh… được dùng để chế biến canh thụt.

Đầu tiên, da bò khô sẽ được nướng cho mềm, đọt mây sẽ được tước vỏ và bẻ thành từng đoạn nhỏ, lần lượt các nguyên liệu sẽ được cho vào một ống để đun. Trước kia, người dân thường dùng cây lồ ô để làm ống đun canh thụt, nay ống bằng kim loại đã được sử dụng nhiều hơn.

Thưởng thức món ăn đặc sản này, thực khách sẽ cảm nhận được mùi vị rất đặc trưng. Không những thế, đó còn là cách để hiểu rõ hơn về Tây Nguyên không chỉ qua giá trị văn hoá, mà còn cả nghệ thuật ẩm thực.

Theo VTV

Advertisements

Cá bống kho riềng – đặc sản ẩm thực Đắc Lắc

Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt…

   Ðến với Đăklăk là đến với những cánh rừng đại ngàn cùng những đồi, núi, dốc đèo chập chùng, vẻ hùng vĩ uy nghi của nó đã làm nhiều người mới đến lần đầu cảm thấy ớn lạnh. Nhiều người lầm tưởng nơi đây quanh năm suốt tháng người dân chỉ biết ăn cá khô từ các tỉnh đồng bằng mang lên. Nhưng thực chất nơi đây có nhiều món ăn thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống.
Đến với Đăklăk bạn không chỉ được ngắm thắng cảnh của một vùng rừng mà bạn còn được thưởng thức những lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc cùng những món ăn dân dã mang đậm hương vị của núi rừng Tây Nguyên. Món cá bống thác kho riềng là một món ăn có tính truyền thống của người dân tộc nơi đây. Cá bống là loại rất phổ biến, nó sống trong các kênh rạch, ao hồ, sông suối nơi đâu cũng có, nhưng cá bống Tây Nguyên thì lại khác, nó sống ngay trong dòng thác đổ. Các con thác Tây Nguyên ngày đêm gầm rú hòa vào âm sắc của núi rừng Tây Nguyên đại ngàn những bản hòa tấu vang động. Trong dòng thác đó tưởng như không còn loài sinh vật nào có thể sống được. Vậy mà cũng Åcó loài chỉ sống nơi những ngọn thác đổ ào ào, đó là cá bống thác. Loại cá này chỉ thích nghi với môi trường nước đổ từ cao xuống, mình bé và trắng, thân tròn săn chắc như ngón tay. Nó không sống được nơi nước lặng có bùn như loại bống mủn, bống mít dưới đồng bằng.

Tháng ba nắng gió Tây Nguyên gắt gao hơn, các con thác vơi nước bớt đi vẻ oai hùng thì cũng là lúc các cư dân người dân tộc thiểu số nơi đây bắt đầu công việc dọn nương để chuẩn bị mùa rẫy mới. Hành trang trên đường đi rẫy, họ chỉ cần ít gạo và dụng cụ nấu ăn, còn thức ăn sẽ đi xuống những thác nước lấy rổ luồn vào khe đá những chỗ nước chảy xiết để bắt loại cá này. Cá được mang lên, còn tươi nhảy lao xao, con nào con ấy bé tròn, họ xả cho sạch nhớt trên mình và bỏ vào ít muối ướp cho cứng lại, sau đó đi đào lấy ít riềng rửa sạch giã nhỏ. Bây giờ chỉ còn việc bắc chảo cho nóng, và cho vào đó ít dầu ăn, hay mỡ đun cho sôi lên, cho cá vào chiên vàng, đổ riềng đã chuẩn bị sẵn. Mùi riềng, mùi cá bốc lên thơm ngào ngạt, đợi riềng và cá quyện vào nhau, lúc này họ mới cho mắm muối và các gia vị: hành, tiêu, ớt, đường và bột ngọt tạo độ vừa ăn.

   Mùa làm rẫy nắng nóng người làm rẫy về trưa đã thấm mệt. Mùi thơm của cá bống thác kho riềng bốc lên thơm ngào ngạt làm cồn cào cái dạ dầy mà suốt sáng tới giờ nó đã phải làm cái việc chuyển hóa năng lượng, nhắc nhủ họ tìm đến những gốc cây kơnia gần đó để dùng bữa trưa đạm bạc mà thanh nhã. Cơm gạo lúa rẫy chín tới, cá bống thác kho riềng vừa xong, mùi hương của cơm, của cá quyện vào nhau thơm đến lạ lùng, chỉ núi, rừng Tây Nguyên mới có được. Bới chén cơm gắp con cá, và vào miệng cá bống thác giòn tan, thấm vị giác, mùi thoảng lên khứu giác thật là một cảm giác khó quên trong những ngày làm rẫy. Cơm đó, cá đó ăn với canh cà tím quả tròn, nhỏ mọc ven suối thật là món ăn quê nhưng lại không đâu có. Cơm trưa xong, nghỉ mát dưới bóng cây kơnia, cái gió Tây Nguyên làm vơi bớt cái nắng như thiêu như đốt làm cho người làm rẫy chìm vào giấc nghỉ trưa thanh bình và cái mệt nhọc của một buổi lao động nhờ đó cũng tan đi.

Theo Saigonnet

Rượu cần đặc sản Đắk Nông

Trường Sơn cao ngất rừng xanh
Quây quần hũ rượu, Thượng – Kinh chung cần

Trong bất cứ lễ, tết nào, đồng bào Tây Nguyên cũng đều có nghi thức uống rượu cần. Rượu, theo họ tin tưởng, là do Trời (Yang) sai thần linh xuống trần dạy cho con người cách làm rượu đủ loại: từ gạo, mì, bắp cho đến bo bo, kê…để tế lễ các đấng tối cao trong năm.

Rượu Ba Na được các dân tộc ở Tây Nguyên khen là ngon nhất, sau đó mới là rượu của người Ê-đê và Xơ-đăng.

Rượu cần Tây Nguyên uống bằng cần. Rượu cần có nhiều thứ, ngon hay dở là do ở người làm cũng như các hợp chất có được đầy đủ hay không. Hiện nay, rượu cần không chỉ dành riêng cho các đồng bào Tây Nguyên, mà họ thường chế tạo, cất thành từng ghè (ghè hay ché là loại hũ cao để đựng rượu) chở đi bán tại các làng miền xuôi. Cho nên, người Kinh chúng ta nay cũng “khoái” uống rượu cần trong các tiệc tùng linh đình hay lễ, tết.

Uống rượu cần thể hiện sự đoàn kết, thương yêu không có chuyện chén chú, chén anh, chén ông, chén bác… Mọi người cùng uống với nhau chung cần, trẻ, già, trai, gái nhâm nhi thịt trâu nướng mà không sợ mất vệ sinh.

Làm rượu cần rất đơn giản. Chỉ cần bỏ men vào cơm ủ trong ché (ghè) độ bốn năm hôm là thành rượu. Lúc nào uống thì đổ thêm nước lã vào chứ không cất như rượu đế. Rượu để lâu ngày càng ngon. Có người đem chôn rượu ở dưới đất hàng năm cho rượu hả hơi mới đem lên uống.

Rượu cần có nhiều loại. Rượu thóc là lúa mới xay, rửa cho sạch, ngâm nước rồi trộn men để bỏ vào ché. Lấy lá chuối bịt chặt miệng ché độ năm, sáu hôm sau là dùng được. Rượu cơm là rượu làm bằng gạo nấu thành cơm ủ với men; hoặc là trộn đều bỏ vào ché; hay bỏ một lớp cơm, một lớp men cũng được. Cơm rượu chỉ độ vài ba hôm là nở tràn ché. Còn rượu kê, bo bo, bắp, mì, v.v… thì cũng làm theo cách trên.

Đồng bào Ba Na gọi rễ cây men là Hiam. Rễ này cùng với gừng, ớt được giã nhỏ, trộn với gạo rồi viên thành viên nhỏ. Hoặc lấy rễ dây men – loại dây có gai bò trên mặt đất giống như dây trầu – đem phơi khô, giã nhỏ với củ riềng hay củ gừng rồi cũng viên thành từng viên lớn như quả trứng gà so. Mỗi ché chỉ bỏ độ một viên men là đủ.

Đến lúc uống mới đem cần cắm vào ché. Cần uống thường làm bằng cây trúc hay cây triêng. Cuốn cây triêng thường dài cả mét, chặt đem về phơi khô, rút lõi bỏ đi, dùng làm cần rượu thì tuyệt!

Rượu cần tuy nhẹ, dễ uống, nhưng uống nhiều, khách dễ bị đau đầu và có thể ngã lăn quay lắm…

Đặc sản Cá Lăng nướng than

Trong các món đặc sản của núi rừng, nhiều du khách rất thích món cá lăng nướng than hồng. Người dân ở đây thường bọc cá lăng trong một loại lá rừng rồi mới đem nướng. Cá lăng được đánh bắt từ dòng sông Sêrêpôk, thịt cá không chỉ ngọt mà còn dai và thơm phức. Thêm một ống cơm lam, một đĩa gà nướng là bữa ăn của bạn đã mang đậm “chất” đại ngàn.

Thơm ngon hương vị cá lăng

Cá lăng (tên khoa học là Hemibagrus elongatus) là tên gọi một loài cá trong họ Cá lăng, bộ Cá da trơn. Cá lăng là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất, trong tự nhiên đã bắt được những con từ 40 – 50 kg. Đây là một loài cá không có xương dăm, thịt rất ngon nên rất được ưa chuộng. Ở Hà Nội, từ xa xưa đã nổi tiếng món chả cá Lã Vọng… Ở Đắk Nông, cá lăng có nhiều trên sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk… và hiện có mặt ở hầu hết các Nhà hàng lớn tại thị xã Gia Nghĩa, huyện Chư Jút, Krông Nô, Đắk Glong…

Dưới đây xin giới thiệu một số món chế biến từ cá lăng mà thực khách hai miền Nam – Bắc ưa dùng, đó là chả cá lăng, cá lăng om chuối và cá lăng nướng.

Chả cá lăng chín vàng nổi màu men cánh gián chỉ nhìn thôi đã thấy hấp dẫn

Để có miếng chả cá thơm ngon, nhà hàng phải kén những con cá lăng đen khỏe, vừa chắc thịt, ít xương lại ngọt. Cá được lọc bỏ sạch da và xương, thái miếng khuôn hoặc hình chữ nhật rồi tẩm ướp gia vị gồm nước cốt của riềng, nghệ quyện với mẻ, mắm tôm, nước mắm trong khoảng 1 giờ. Khi gia vị đã ngấm sâu vào từng thớ thịt của cá, xếp từng miếng cá vào vỉ, sau đó phết một lớp dầu và nướng trên than hoa. Người đầu bếp phải nhanh tay lật giở cho đến khi nghe thấy tiếng xèo xèo của mỡ, cá chín vàng nổi màu men cánh gián, dậy mùi thơm thơm của thịt, của mẻ, ấy là lúc có thể lấy ra thưởng thức. Mắm tôm được lựa chọn rất kỹ, phải là loại mắm cá chất lượng tốt nhất, dậy mùi thơm và phải ngọt đậm đà. Khi ăn kèm với hành, thì là, một chút lạc rang sẽ cho ta một vị đặc trưng.

Món cá lăng nướng cũng tuyệt vời không kém. Khi những viên thịt cá nướng thơm ngậy, vàng rộm được xếp lên đĩa, nổi bật giữa màu xanh của chuối, rau thơm và bát nước chấm sóng sánh đủ sắc, chỉ nhìn thôi cũng thấy ngọt lịm nơi đầu lưỡi rồi. Đặt một miếng cá lăng lên bánh cuốn có sẵn rau sống, lát chuối xanh, khế, dứa, bún cuộn lại chấm nhẹ trong bát mắm đủ vị của tỏi, chanh, ớt đường pha vừa miệng. Tất cả cứ lan tỏa dần trên đầu lưỡi. Vừa ăn, vừa nhâm nhi một chút rượu mạnh cùng cà kê với bạn bè, gia đình thì còn gì thú vị bằng!

Cá lăng nướng ăn kèm bún, rau sống, chuối xanh...

Nếu bạn muốn tìm cho mình một mùi vị thơm ngon của nước dùng, cá lăng om chuối là một lựa chọn thú vị. Màu đặc quánh ánh vàng của nước om, vị béo ngậy của miếng thịt ba chỉ quyện trong vị ngọt của cá lăng và mềm thơm của từng khoanh đậu, khoanh chuối khiến bạn khó có thể cưỡng lại. Để giữ được sự tinh túy và hương vị đặc trưng của món ăn lạ miệng ấy, tất cả phải được chuẩn bị công phu và tuân thủ theo một quy trình chế biến nghiêm ngặt theo công thức bí truyền của nhà hàng.

Không chỉ cầu kỳ trong khâu chế biến, món cá lăng om chuối cũng đòi hỏi sự tinh tế của người biết thưởng thức. Chầm chậm hít hà, húp những thìa nước dùng nóng hôi hổi để cảm nhận trước tiên vị thanh ngọt của món, rồi để hồn mình tan dần theo mỗi miếng cá thơm trong miệng, lâng lâng mùi mẻ quanh quẩn khắp chân răng mới thấy được cái tinh tuý trong thế giới ẩm thực của nơi đây.

Cá lăng om chuối

Ngoài ra, thực khách phía Nam ưa món lẩu cá lăng, còn ở Đắk Lắk, Đắk Nông thì đặc sắc mà dân dã nhất là món lẩu cá lăng nấu lá dang. Đây là loại cây họ dây leo, mọc trong rừng, lá có vị chua thanh, khi nấu với cá, nó làm thịt cá chắc và không còn mùi tanh của cá.

Cá chua Tây Nguyên

Người Tây Nguyên sống chân thật, mộc mạc, nên các món ăn chế biến cũng giản đơn. Nguồn thực phẩm không dồi dào, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên mỗi khi săn bắt được thú rừng, được con cá… bao giờ cũng nghĩ cách để dành cho ngày hôm sau như phơi khô, sấy khô, treo gác bếp… Ðặc biệt là chế biến món cá chua. Thức ăn này để càng lâu càng ngon. Ðây là món ăn đặc sản Tây Nguyên.

Cách làm món cá chua thật dễ dàng. Trước hết cần chọn loại cá niệng để chế biến – Cá niệng trông hơi giống cá trôi nhưng mình dẹt có nhiều ở vùng sông suối Tây Nguyên. Cá được đánh hết vẩy, bỏ ruột, bóc mang và rửa sạch, cắt thành khúc nhỏ dày chừng 2 phân đến 3 phân, để trước gió cho ráo nước. Khi cá se khô, bắt đầu trộn đều với muối, ớt, lá bép (tức cây mì chính) thính ngô (được giã nhỏ mịn). Trộn đều xong cho vào ống nứa hay ống lồ ô khô, sạch, nút thật kín, chặt rồi gác lên dàn bếp hoặc dưới mái nhà, chỉ sau vài ngày là có thể ăn được. Cá chua để càng lâu ăn càng ngon vì miếng cá sắt lại nhờ các gia vị đã thấm sâu vào thịt cá làm cho người ăn thấy vị mặn của muối, vị cay của ớt rừng, vị ngọt đầm của lá bép, vị thơm của thính ngô và vị chua do hỗn hợp này đã được lên men…

Người Tây Nguyên mến khách. Nếu có dịp về Tây Nguyên chắc bạn sẽ được mời thưởng thức món đặc sản này

Nguồn: saigontoserco

Gỏi lá Kon Tum

Tôi sinh sống và làm việc đã gần hai chục năm nay trên mảnh đất cực bắc Tây Nguyên, đã nghe nói thật nhiều về món ăn “có một không hai” – đó là món gỏi lá Kon Tum, thú thực đây là lần đầu tiên tôi mới có dịp được thưởng thức món ăn độc đáo này, quả là “danh bất hư truyền”…

Trước mặt chúng tôi là một cái bàn rộng bày la liệt hàng chục loại lá rừng xanh non mơn mởn trông thật bắt mắt. Trước khi “ăn lộc” rừng và thưởng thức món ăn, chị chủ quán Lê Thị Oanh cho biết, món gỏi này có tới 60 loại lá khác nhau. Đang giữa mùa khô Tây Nguyên, mà các loại lá rừng hầu như không thiếu một loại nào. Những loại lá có mặt trong món này được chọn theo tiêu chuẩn: hương vị phải có đủ bốn vị chính là: chua, cay, đắng, chát…

Trong “rừng lá” này chúng tôi chỉ nhận mặt được một vài loại lá quen thuộc như: đinh lăng, lá sung, xoài, ổi, cóc, lá vừng, lá bứa, ngũ gia bì, lá hồng ngọc, húng hắng, lá mơ, diếp cá, tía tô, kinh giới, cải xanh… còn mấy chục loại lá khác thì chịu. Gỏi lá được dọn ăn kèm với thịt cá lóc, cá trắm cỏ, cá chép, thịt heo ba chỉ luộc, tôm suối hấp. Để có được món gỏi thơm ngon, yếu tố quan trọng nhất là nước chấm. Theo chị Oanh, công thức gồm mẻ, gừng, riềng, thịt nạc và điều quan trọng còn phụ thuộc vào “tay nghề” pha chế, khi quệt món gỏi vào nước chấm sền sệt, ăn có hương vị rất khó diễn tả…

Các công đoạn chế biến món gỏi lá cũng lắm công phu. Khi lấy các loại lá từ rừng về phải biết cách bảo quản sao cho thật tươi, lá phải xanh non. Riêng loại cá ăn kèm phải trải qua nhiều công đoạn chế biến: róc thịt, lược bỏ hết xương ra, thái mỏng, cho vào một ít chanh và ướp với gừng, riềng trong 10 giờ để thịt cá chín và hết mùi tanh, đủ độ cứng và thấm gia vị. Khi ăn, thay vì dùng bánh tráng để cuốn, chủ quán hướng dẫn người ăn lấy từng loại lá đan lại với nhau thành hình chiếc phễu, gắp bỏ thêm miếng thịt, mấy lát cá và con tôm chiên vàng, chế vào đó một muỗng nước chấm. Có như vậy, món ăn có đủ hương vị chua chua, cay cay, xen lẫn bùi bùi, đăng đắng của lá và vị béo thơm ngậy của thịt, cá, tôm. Người thích nhâm nhi có thể uống rượu ngâm đinh lăng.

BÀI VÀ ẢNH: TẤN TÀI – TẤN LỘC

Nguồn: SGTT

Lá é cá trích

Một món của người dân tộc thiểu số vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa. Món ăn được làm công phu với nguyên liệu đơn giản, chỉ là cá từ dòng suối trong, lá từ cây rau dại… Ấy thế mà ngon!

Tây Nguyên thường được biết đến với những núi đồi bạt ngàn cây xanh, với rừng già, với tiếng cồng chiêng, tiếng hát vang vọng núi rừng, với những cô gái trong bộ áo váy sặc sỡ hay chàng trai lưng quàng khố, vai đeo gùi và những câu chuyện huyền thoại dựng nước, giữ nước…

Nhưng không chỉ có thế. Ngày nay Tây nguyên còn được biết đến với những món ăn lạ nhưng rất ngon. Đó là những món ăn mộc mạc, mà để thực hiện người nấu chỉ cần ra suối bắt con cá, vào rừng hái nắm lá…

Món ngon đời thường

Với người dân tộc khác thì lá é cá trích là món ăn lạ, ngon và độc đáo. Thế nhưng với người dân tộc Jrai vùng Cheo Reo – Phú Bổn, nay được gọi là Ayunpa thì đây chỉ là món ăn đơn giản thường ngày. Họ bắt cá trích nơi các dòng suối nước trong văn vắt, mang về xâu lại thành từng xâu, phơi hơi se se rồi gác trên chái bếp, chỗ gần bếp lửa. Khói và hơi nóng hàng ngày sẽ làm thịt cá chắc lại và có mùi khói ám rất lạ.

Cá trích đã khô đem nướng trên lửa than riu riu, cứ nướng một mặt chứ đừng trở nhiều – khác với cách nướng của người Kinh là trở đều hai mặt trong suốt quá trình nướng. Khi cá đã cháy sém một bên, người ta mới lật qua mặt còn lại nướng tiếp. Có thể nói, mọi nguyên liệu và dụng cụ để thực hiện món cá này đều đơn giản đến đáng ngạc nhiên, ngay cả phần vỉ nướng. Người Jrai không dùng vỉ nướng cá mà lấy thân tre chẻ ra như những cái nẹp, kẹp cá rồi dùng chính lạt tre cột ở hai đầu và nướng.

Lá é là loại lá có mùi hương và dáng lá hơi giống rau húng quế của mình nhưng vị nồng hơn và cành cũng như lá nhỏ hơn, khi nhấm thử trong lưỡi thì cả hương lẫn vị đều đậm đà, thơm hơn rau quế. Hiện nay người Kinh có lai tạo và cho trồng ở vườn rau nhưng không có hương vị bằng. Lá có mầu xanh biếc, dáng lá nhỏ như những lá quế còn non.

Khi dùng, lá é được phơi cho héo khoảng 50%, thấy lá sầu sầu là được. Khi đã héo, lá rũ xuống, người ta tước lá khỏi cọng (có người tiếc, dùng cả cọng nhưng cũng không ngon vì cũng chẳng có hương vị gì). Khi cá đã chín vàng đều, gỡ bỏ ruột, đầu, xương, da cá. Thịt cá xé nhỏ, cho vào cối cùng với lá é phơi héo và giã. Khi giã, cho muối hột vào từ từ và giã đến khi lá, cá và muối quện vào nhau, sau cùng thì cho ớt khô và cọng cỏ ngọt.

Mộc mạc mà ngon

Cỏ ngọt cũng là một loại lá cỏ rất đặc biệt của vùng Tây nguyên, chỉ có vào tháng 10 – 11 hằng năm. Lá cỏ lớn hơn lá cỏ gấu. Vào mùa, cỏ nhiều, người Jrai hái và đem phơi khô rồi cứ gác ở chái bếp để dùng quanh năm, khi nhấm thử, vị của lá như bột ngọt nhưng lại là vị ngọt rất tự nhiên. Sau khi phơi khô, người Jrai lấy và giã nhiều lần cho thành bột rồi cất đi để riêng, lúc nào dùng sẽ lấy ra để nêm nếm món ăn, hoặc trộn chung với lá é, cá trích. Thông thường, chỉ khi nào có khách quý người ta mới dùng đến loại cỏ này. Bây giờ đa phần họ dùng bột ngọt thay cho cỏ ngọt, tuy nhiên trong nhà bao giờ cũng trữ một ít bột cỏ khô để dành khi cần đãi khách.

Lá é cá trích thường được dọn với cơm dẻo, dùng như muối mè của người Việt, không phải là gia vị chấm. Gạo để nấu cơm là gạo nương, hạt thô, màu hơi xám, mới nhìn như gạo cũ và có vẻ như mốc, nhưng không phải vậy. Khi nấu, nếu là gạo mới thì rất dẻo, dẻo như cơm nếp. Khi cũ, gạo sẽ se hạt, tựa như gạo thơm dẻo của người Kinh. Dọn kèm món ăn này là những món thịt rừng nướng, nhất là thịt bò nướng theo kiểu người Jrai, rất ngon.

Không phải là một món ăn cao sang, cũng không có một tên gọi hoa mỹ, lá é cá trích mộc mạc như bản chất của người dân tộc thiểu số. Món ăn tuy không đẹp nhưng khi ăn, để lại trong lòng khách một cảm giác thật ngon, ngon vì lạ và ngon vì chính bản chất bình dị, tự nhiên của món ăn… Ngon quá!

Bài & ảnh DZOÃN VÂN

Nguồn: Monngonvietnam

—————-

Chú thích:

Phú Bổn là một tỉnh cũ thời Việt Nam Cộng hòa. Tháng 9-1962, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chia tỉnh Pleiku ra 2 tỉnh: Pleiku và Phú Bổn. Từ năm 1976, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn diện tích lại được nhập sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum.

Địa lý

Hành chính

Phú Bổn giáp hai tỉnh Pleiku và Bình Định về phía bắc, tỉnh Phú Yên về phía đông, Đắc Lắc về phía nam và tây nam, Pleiku về phía tây. Diện tích toàn tỉnh là 4.822 km². Tỉnh lỵ đặt tại Hậu Bổn (Cheo Reo). Tỉnh có 3 quận là Phú Thiện, Phú Túc (nay là Krông Pa) và Thuần Mẫn.

Quận lị Thuần Mẫn cách Hậu Bổn (Cheo Reo) 15 km về phía tây nam, nay nằm ở vùng giáp ranh hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc.

Sau năm 1975, tỉnh được nhập vào tỉnh Đắc Lắc, sau đó phần lớn địa bàn tỉnh chuyển sang tỉnh Gia Lai-Kon Tum, riêng vùng phía nam quận Thuần Mẫn nay thuộc tỉnh Đắc Lắc.

Tự nhiên

Phú Bổn nằm ở cao độ từ 150 m đến 1.000 m, có núi rừng bao bọc chung quanh. Những ngọn núi cao ở đây gồm có Chu Tryan 1.331 m, Chu Kheur 1.088 m; Chu Dju cao 1.230 m, Chu Dlé Ya cao 1.215 m.

Sông chính của Phú Bổn là sông Ba (người Thượng còn gọi là Ia Ba hay Ea Pa), phát nguồn từ núi Ngọc Roo (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), chảy theo hướng bắc-nam, khi tới Cheo Reo thì gặp sông Ia Ayun. Sông Ia Ayun bắt nguồn từ chân núi Kon Lack (thuộc tỉnh Pleiku), chảy vào Phú Bổn theo liên tỉnh lộ số 7. Sông Ba có các sông nhánh chính là sông Ea Thul, phát nguồn từ núi Kong Wan Riom; sông Cà Lúi và sông Ba M’la, phát nguồn từ núi Chu Prong và sông Krong Nang phát nguồn từ núi Chu Dlé Ya. Vào mùa mưa, sông Ia Ayun và sông Krong Nang thêm nước vào sông Ba làm lưu lượng nước chảy mạnh về phía đông nam, cuốn nhiều đất phù sa bồi đắp cho bình nguyên Phú Bổn.

Khí hậu

Khí hậu Phú Bổn có hai mùa mưa nắng, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 3.

Dân số

Tính đến năm 1971, tỉnh Phú Bổn có tổng cộng 69.765 người, đa số là người Jarai và Bahnar.

Giao thông

Liên tỉnh lộ 7 là đường giao thông quan trọng, nối Phú Bổn với các tỉnh lân cận.